Di chúc được lập ở nước ngoài có phải là một di chúc hợp pháp không?

Di chúc là việc một người muốn chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi mình chết đi. Theo đó, di chúc có di chúc miệng và di chúc bằng văn bản. Chỉ khi không thể lập bằng văn bản thì mới sử dụng hình thức di chúc miệng. Như vậy, di chúc được lập ở nước ngoài có phải một di chúc hợp pháp không? Cùng Luật sư ADB Saigon tìm hiểu thêm về di chúc được lập ở nước ngoài có phải một di chúc hợp pháp không theo quy định Bộ luật Dân sự 2015 qua bài viết dưới đây:

Cơ sở pháp lý

– Bộ luật Dân sự 2015

Di chúc có yếu tố nước ngoài là gì?

Di chúc là việc một người muốn chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi mình chết đi. Theo đó, di chúc có di chúc miệng và di chúc bằng văn bản. Chỉ khi không thể lập bằng văn bản thì mới sử dụng hình thức di chúc miệng.

Như vậy, di chúc có yếu tố nước ngoài là di chúc có một hoặc một số đặc điểm liên quan đến nước ngoài, cụ thể gồm: Người để lại di sản là người nước ngoài hoặc là người Việt Nam định cư ở nước ngoài; Người thừa kế tài sản là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài; Tài sản thừa kế ở nước ngoài.

Xem thêm bài viết: Quyền thừa kế tài sản của người nước ngoài tại Việt Nam?

Di chúc được lập ở nước ngoài có phải là một di chúc hợp pháp không-Hỗ trợ tư vấn pháp lý nhanh

Di chúc được lập ở nước ngoài có phải là một di chúc hợp pháp không?

Căn cứ vào quy định tại Điều 638 Bộ luật Dân sự 2015 về di chúc bằng văn bản có giá trị như di chúc được công chứng hoặc chứng thực như sau:

“Điều 638. Di chúc bằng văn bản có giá trị như di chúc được công chứng hoặc chứng thực

1. Di chúc của quân nhân tại ngũ có xác nhận của thủ trưởng đơn vị từ cấp đại đội trở lên, nếu quân nhân không thể yêu cầu công chứng hoặc chứng thực.

2. Di chúc của người đang đi trên tàu biển, máy bay có xác nhận của người chỉ huy phương tiện đó.

3. Di chúc của người đang điều trị tại bệnh viện, cơ sở chữa bệnh, điều dưỡng khác có xác nhận của người phụ trách bệnh viện, cơ sở đó.

4. Di chúc của người đang làm công việc khảo sát, thăm dò, nghiên cứu ở vùng rừng núi, hải đảo có xác nhận của người phụ trách đơn vị.

5. Di chúc của công dân Việt Nam đang ở nước ngoài có chứng nhận của cơ quan lãnh sự, đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước đó.

6. Di chúc của người đang bị tạm giam, tạm giữ, đang chấp hành hình phạt tù, người đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh có xác nhận của người phụ trách cơ sở đó.”

Như vậy, theo quy định tại khoản 5 Điều 638 Bộ luật Dân sự 2015 thì di chúc của công dân Việt Nam đang ở nước ngoài có chứng nhận của cơ quan lãnh sự, đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước đó được coi là di chúc bằng văn bản có giá trị như di chúc được công chứng hoặc chứng thực.

Đối với các trường hợp di chúc được lập ở nước ngoài của công dân Việt Nam bắt buộc phải được công chứng, chứng thực (khoản 3 Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015) thì chỉ cần có chứng nhận của cơ quan lãnh sự, đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước đó là di chúc được coi là đã công chứng, chứng thực.

Tuy nhiên, quy định tại khoản 5 Điều 638 Bộ luật Dân sự 2015 nêu trên chỉ áp dụng với công dân Việt Nam. Với người nước ngoài gốc Việt (không phải công dân Việt Nam), họ phải xin chứng thực của nước mà họ là công dân, cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam sẽ làm thủ tục hợp pháp hóa lãnh sự để giấy tờ được sử dụng tại Việt Nam.

Trên đây là bài viết tham khảo của Luật sư ADB SAIGON về di chúc được lập ở nước ngoài có phải một di chúc hợp pháp không theo quy định Bộ luật Dân sự 2015. Luật sư ADB SAIGON luôn sẵn sàng tư vấn pháp lý miễn phí (qua điện thoại 0907520537tư vấn trực tiếp, qua zalofanpage…) về tất cả các thắc mắc nhiều lĩnh vực khác nhau như Luật sư Hình sựLuật sư Hôn nhân Gia đìnhLuật sư Dân sựLuật sư Doanh Nghiệp, Luật sư Kinh doanh Thương mại, Luật sư Đất đai

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *