Làm thế nào để thừa kế tiền trong thẻ ATM của người chết để lại?

Di sản thừa kế của người sau khi chết để lại bên cạnh nhà cửa, đất đai, xe cộ,… thì một trong những di sản thừa kế thường gặp là tiền trong tài khoản ngân hàng, tiền gửi tiết kiệm,… Vậy, làm thế nào để thừa kế tiền trong ATM của người chết để lại? Cùng Luật sư ADB Saigon tìm hiểu thêm về vấn đề trên theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015 qua bài viết dưới đây:

Cơ sở pháp lý

– Bộ luật Dân sự 2015

Làm thế nào để thừa kế tiền trong thẻ ATM khi người chết để lại?

Khi một người đã mất thì theo quy định của pháp luật, tất cả tài sản mà họ có được lúc còn sống để lại gọi là di sản thừa kế. Tài khoản ngân hàng cũng là di sản thừa kế của người đã mất bởi trong đó nó có chứa tiền là tài sản tích góp của người đã mất để lại.

Theo quy định tại Điều 612 Bộ luật Dân sự 2015 thì di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.

Khi người mất để lại di sản thừa kế là số tiền trong tài khoản ngân hàng thì sẽ có hai trường hợp để xác định người được rút số tiền này đó là:

Người đã mất để lại di chúc

Lúc này có thể hiểu việc chia thừa kế sẽ phụ thuộc vào nội dung của di chúc mà người đã mất đó để lại. Theo Điều 624 Bộ luật Dân sự 2015 quy định thì di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.

Do vậy, nếu người đã mất để lại di chúc thì trong nội dung di chúc đó đã thể hiện ý chí của họ là muốn để lại số tiền trong tài khoản cho ai thì người đấy sẽ có quyền được rút số tiền đấy ra. Di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế. Thời điểm mở thừa kế ở đây hiểu một cách đơn giản nhất là từ sau khi người để lại di sản chết, nói cách khác di chúc có hiệu lực khi người để lại di sản chết, còn khi họ đang sống thì di chúc vẫn chưa có hiệu lực.

Tuy nhiên, lúc này cần phải đảm bảo di chúc mà người mất để lại phải hợp pháp thì mới có thể rút tiền. Di chúc hợp pháp khi đáp ứng được các điều kiện như: Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép và Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

Ngoài ra theo quy định tại Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc như sau:

“1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.

2.Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này.”

Như vậy, theo quy định này, nếu người mất để lại di chúc nhưng trong di chúc lại không để lại di sản cho các đối tượng như vợ, bố, mẹ, chồng và con chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng không có khả năng lao động thì các đối tượng này vẫn được hưởng một phần di sản cho người mất để lại. Tức là, ngoài người có tên được hưởng trong di chúc thì nhưng người như nêu ở trên cũng sẽ có quyền được rút số tiền trong tài khoản ngân hàng do người mất đứng tên.

Xem thêm bài viết: Phân chia thừa kế đối với sổ tiết kiệm ngân hàng như thế nào?

Làm thế nào để thừa kế tiền trong thẻ ATM của người chết để lại-Hỗ trợ tư vấn pháp lý nhanh

Người đã mất không để lại di chúc

Theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015, trong trường hợp người mất không để lại di chúc thể hiện ý chí muốn để lại phần di sản của mình cho ai hưởng thì lúc này việc chia thừa kế sẽ tuân theo quy định của pháp luật hay còn gọi là chia thừa kế theo pháp luật.

Căn cứ theo quy định tại Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về Người thừa kế theo pháp luật như sau:

“1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2.Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3.Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.”

Như vậy, theo quy định này có thể hiểu các đối tượng được rút tiền trong tài khoản ngân hàng do người mất đứng tên trước hết phải là người đứng trong hàng thừa kế thứ nhất  là bố, mẹ, vợ, chồng và các con của người đã mất. Nếu những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất không còn ai thì những người thuộc hàng thừa kế thứ hai có quyền được rút và nếu không còn ai thuộc cả hàng thừa kế thứ nhất và thứ hai thì người thuộc hàng thừa kế thứ ba sẽ được hưởng và rút số tiền trong tài khoản ngân hàng đứng tên người đã mất.

Trên đây là bài viết tham khảo của Luật sư ADB SAIGON về việc Làm thế nào để thừa kế tiền trong thẻ ATM của người chết để lại theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015. Luật sư ADB SAIGON luôn sẵn sàng tư vấn pháp lý miễn phí (qua điện thoại 0907520537tư vấn trực tiếp, qua zalofanpage…) về tất cả các thắc mắc nhiều lĩnh vực khác nhau như Luật sư Hình sựLuật sư Hôn nhân Gia đìnhLuật sư Dân sựLuật sư Doanh Nghiệp, Luật sư Kinh doanh Thương mại, Luật sư Đất đai

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *