Cho mượn nhà để đánh bạc thì bị xử phạt như thế nào?

Tết đến xuân về nhiều người vì ham vui để cho các bạn bè, anh, chị, em của mình cho mượn nhà để đánh bạc ăn tiền, mà không biết điều đó bị vi phạm pháp luật. Việc cho mượn nhà để đánh bạc trái phép là hành vi vi phạm pháp luật. Tùy thuộc mức độ vi phạm mà có thể bị xử phạt hành chính hoặc bị xử lý hình sự.

Hành vi cho mượn nhà để đánh bạc bị xử phạt như thế nào?

Xử phạt hành chính

Trường hợp bị xử lý hành chính, người vi phạm phải chịu mức phạt lên đến 10 triệu đồng và bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung.

Cụ thể, điểm b khoản 4 Điều 28 Nghị định 144/2021/NĐ-CP quy định hành vi dùng nhà, chỗ ở của mình để làm địa điểm, chứa chấp việc đánh bạc bị xử phạt như sau:

Điều 28. Hành vi đánh bạc trái phép

4. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong những hành vi tổ chức đánh bạc sau đây:

b) Dùng nhà, chỗ ở, phương tiện, địa điểm khác của mình hoặc do mình quản lý để chứa chấp việc đánh bạc;

6. Hình thức xử phạt bổ sung:

a) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi quy định tại khoản 1; khoản 2; các điểm a và b khoản 3; các điểm b, c và d khoản 4 và khoản 5 Điều này;

Theo quy định trên, suy ra:

Hành vi cho mượn nhà để đánh bạc cũng là hành vi đánh bạc trái phép và bị xử phạt từ 5 triệu – 10 triệu. Mức phạt này trong trường hợp thông thường là 7,5 triệu;

Trường hợp người vi phạm có nhiều tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng thì mức phạt này tương ứng là 5 triệu hoặc 10 triệu. Người vi phạm còn bị tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm;

Hành vi cho mượn nhà để đánh bạc - Luật sư ADB SAIGON

Xử lý hình sự

Trong trường hợp bị xử lý hình sự thì người phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm với tội tổ chức đánh bạc quy định tại Điều 322 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi 2017 như sau:

“1. Người nào tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Tổ chức cho 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên hoặc tổ chức 02 chiếu bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên;

b) Sử dụng địa điểm thuộc quyền Sở hữu hoặc quản lý của mình để cho 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên hoặc cho 02 chiếu bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên;

c) Tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trong cùng 01 lần trị giá 20.000.000 đồng trở lên;

d) Có tổ chức nơi cầm cố tài sản cho người tham gia đánh bạc; có lắp đặt trang thiết bị phục vụ cho việc đánh bạc hoặc phân công người canh gác, người phục vụ khi đánh bạc; sắp đặt lối thoát khi bị vây bắt, sử dụng phương tiện để trợ giúp cho việc đánh bạc;

đ) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc hành vi quy định tại Điều 321 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 321 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Thu lợi bất chính 50.000.000 đồng trở lên;

c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương, tiện điện tử để phạm tội;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

Trường hợp Quý bạn đọc có thắc mắc về nội dung bài viết hay cần hỗ trợ về Luật sư Hình sựLuật sư Hôn nhân Gia đìnhLuật sư Dân sựLuật sư Doanh Nghiệp, vui lòng liên hệ qua Hotline(Zalo): 0907 520 537 hoặc Fanpage: https://www.facebook.com/luatsutaibinhduong

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *