Chịu rủi ro về tài sản được Bộ luật Dân sự 2015 quy định như thế nào?

Rủi ro về tài sản là những tác động khách quan, không thể lường trước được với tài sản? Vậy khi có rủi ro về tài sản, ai là người chịu những rủi ro này? Thời điểm chịu rủi ro trong hợp đồng mua bán tài sản được pháp luật quy định như thế nào? Cùng Luật sư ADB SAIGON tìm hiểu qua bài viết dưới đây

Khái niệm rủi ro về tài sản?

“Rủi ro” theo các hiểu thông thường là một cách gọi về những điều không tốt lành và không tốt đẹp. Thuật ngữ này đề cập tới sự không chắc chắn trong hệ quả, tác động của một hành động bất kỳ có liên quan đến những thứ mà con người coi trọng (chẳng hạn như sức khỏe, hạnh phúc, của cải, tài sản hoặc môi trường)

Theo đó, rủi ro về tài sản là nhắc tới khả năng xảy ra biến cố bất thường có hậu quả thiệt hại về tài sản hoặc mang lại kết quả không mong đợi cho tài sản của họ. Có thể hiểu, rủi ro về tài sản đó là một điều không may mắn, không lường trước được về khả năng, thời gian và không gian xảy ra, cũng như mức độ nghiêm trọng và hậu quả về tài sản từ rủi ro gây ra.

Ví dụ: Công ty TNHH A bán và giao hàng cho Công ty TNHH B 1 container hàng điện tử gia dụng. Trong quá trình vận chuyển, xe chở hàng gặp sự cố, bị lật dẫn đến toàn bộ hàng hóa bị hư hỏng. Đây là trường hợp rủi ro về tài sản.

Chịu rủi ro về tài sản-Hỗ trợ, tư vấn pháp lý nhanh

Ai là người chịu rủi ro về tài sản?

Điều 162 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về chủ thể chịu rủi ro về tài sản như sau:

Điều 162. Chịu rủi ro về tài sản

1.Chủ sở hữu phải chịu rủi ro về tài sản thuộc sở hữu của mình, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

2.Chủ thể có quyền khác đối với tài sản phải chịu rủi ro về tài sản trong phạm vi quyền của mình, trừ trường hợp có thỏa thuận khác với chủ sở hữu tài sản hoặc Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

Theo đó, chủ sở hữu của tài sản phải chịu rủi ro về tài sản thuộc quyền sở hữu của mình, , trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có liên quan quy định khác. Người có quyền khác đối với tài sản thì phải chịu rủi ro về tài sản trong phạm vi quyền của mình, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có liên quan quy định khác.

Thời điểm chịu rủi ro trong hợp đồng mua bán tài sản?

Điều 441 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về thời điểm chịu rủi ro như sau:

“Điều 441. Thời điểm chịu rủi ro
1. Bên bán chịu rủi ro đối với tài sản trước khi tài sản được giao cho bên mua, bên mua chịu rủi ro đối với tài sản kể từ thời điểm nhận tài sản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
2. Đối với hợp đồng mua bán tài sản mà pháp luật quy định tài sản đó phải đăng ký quyền sở hữu thì bên bán chịu rủi ro cho đến khi hoàn thành thủ tục đăng ký, bên mua chịu rủi ro kể từ thời điểm hoàn thành thủ tục đăng ký, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.

Thời điểm chịu rủi ro là thời điểm xác định trách nhiệm chịu rủi ro về tài sản thuộc về bên bán hoặc bên mua. Căn cứ vào quy định trên, có thể thấy trách nhiệm chịu rủi ro giữa bên bán và bên mua được xác định như sau:

Một là, đối với tài sản không phải đăng ký quyền sở hữu. Đối với tài sản không cần đăng ký quyền sở hữu thì thời điểm để phân định trách nhiệm giữa bên mua và bên bán trong hợp đồng được xác định dựa trên cơ sở thời điểm giao nhận tài sản. Cụ thể: bên bán sẽ chịu rủi ro về tài sản trước khi tài sản được giao cho bên mua; còn bên mua thì chịu rủi ro đối với tài sản kể từ thời điểm nhận tài sản.

Hai là, đối với tài sản phải đăng ký quyền sở hữu. Pháp luật quy định về một số tài sản phải đăng ký quyền sở hữu như nhà, đất, xe oto, xe máy, tàu bay, tàu biển,.. Khi chuyển giao tài sản phải đăng ký quyền sở hữu thì phải chuyển giao cả quyền sở hữu đối với tài sản đó, tức bên mua phải đăng ký quyền sở hữu theo quy định pháp luật.

Vì vậy, việc phân định trách nhiệm chịu rủi ro giữa bên mua và bên bán không dựa vào thời điểm giao nhận tài sản, mà dựa trên thời điểm hoàn thành thủ tục đăng ký sở hữu tài sản. Cụ thể, bên bán chịu rủi ro cho đến khi hoàn thành thủ tục đăng ký, còn bên mua chịu rủi ro kể từ thời điểm hoàn thành thủ tục đăng ký.

Như vậy, trong trường hợp ví dụ nêu ở đầu bài viết, nếu hai bên không có thỏa thuận nào khác, áp dụng quy định tại Khoản 1 Điều 441 Bộ luật Dân sự 2015 thì bên bán phải chịu rủi ro về tài sản ( Công ty TNHH A ) vì bên mua chưa nhận được hàng nên chưa phải chịu rủi ro.

Trên đây là bài viết tham khảo của Luật sư ADB SAIGON về Chịu rủi ro về tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015Luật sư ADB SAIGON luôn sẵn sàng tư vấn pháp lý miễn phí (qua điện thoại 0907520537tư vấn trực tiếp, qua zalofanpage) về tất cả các thắc mắc nhiều lĩnh vực khác nhau như Luật sư Hình sựLuật sư Hôn nhân Gia đình, Luật sư Dân sựLuật sư Doanh NghiệpLuật sư Đất đai

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *