Quyền từ chối của bên có nghĩa vụ trong chuyển giao quyền yêu cầu được quy định nhu thế nào?

Quyền từ chối của bên có nghĩa vụ trong chuyển giao quyền yêu cầu được quy định nhu thế nào?

Hỏi: Chào Phaplynhanh.vn, hiện tôi có một thắc mắc rất mong nhận được sự tư vấn và giúp đỡ từ phía công ty. Phaplynhanh.vn cho tôi hỏi: Quyền từ chối của bên có nghĩa vụ trong chuyển giao quyền yêu cầu được quy định như thế nào? Tôi xin chân thành cảm ơn! Thu Phương – SĐT: 035423***

Trả lời: Chào bạn Phương, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi và thắc mắc tới chúng tôi. Về câu hỏi của bạn Phaplynhanh.vn xin được trả lời như sau:

Theo quy định của pháp luật hiện hành, Bộ luật Dân sự 2015 quy định về Quyền từ chối của bên có nghĩa vụ trong chuyển giao quyền yêu cầu tại Điều 369 như sau:

Điều 369. Quyền từ chối của bên có nghĩa vụ

1.Trường hợp bên có nghĩa vụ không được thông báo về việc chuyển giao quyền yêu cầu và người thế quyền không chứng minh về tính xác thực của việc chuyển giao quyền yêu cầu thì bên có nghĩa vụ có quyền từ chối việc thực hiện nghĩa vụ đối với người thế quyền.

2.Trường hợp bên có nghĩa vụ do không được thông báo về việc chuyển giao quyền yêu cầu mà đã thực hiện nghĩa vụ đối với người chuyển giao quyền yêu cầu thì người thế quyền không được yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đối với mình.”

Quyền từ chối của bên có nghĩa vụ trong chuyển giao quyền yêu cầu-Hỗ trợ, tư vấn pháp lý nhanh

Theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác, trong mọi trường hợp bên có nghĩa vụ luôn phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với bên có quyền. Do đó, quyền từ chối của bên có nghĩa vụ không thể là quyền từ chối thực hiện nghĩa vụ với bên có quyền. Mà căn cứ vào quy định trên thì quyền từ chối của bên có nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ từ chối việc thực hiện nghĩa vụ với bên thế quyền.

Tuy nhiên, bên có nghĩa vụ chỉ có quyền từ chối thực hiện nghĩa vụ với người thứ ba khi thỏa mãn hai điều kiện sau:

  • Thứ nhất: Bên có quyền không thông báo việc chuyển giao quyền yêu cầu. Khoản 2 Điều 365 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về nghĩa vụ của bên có quyền khi chuyển giao quyền yêu cầu cho bên thứ ba như sau: “Người chuyển giao quyền yêu cầu phải thông báo bằng văn bản cho bên có nghĩa vụ biết về việc chuyển giao quyền yêu cầu, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.

Quy định này nghĩa vụ bắt buộc đối với bên chuyển giao, do đó, nếu họ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bị xem là hành vi vi phạm nghĩa vụ. Việc thông báo có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ. Điều đó giúp bên có nghĩa vụ xác định đúng chủ thể mà mình cần thực hiện nghĩa vụ. Vì vậy, nếu không báo thì bên có nghĩa vụ hoàn toàn có quyền từ chối việc thực hiện nghĩa vụ với bên thế quyền.

  • Thứ hai: Bên thế quyền không chứng minh tính xác thực của việc chuyển giao quyền yêu cầu. Pháp luật đã quy định bên có chuyển giao có nghĩa vụ chuyển giao cho bên thế quyền những giấy tờ liên quan, theo quy định tại khoản 1 Điều 366 Bộ luật Dân sự năm 2015. Giấy tờ tờ là cơ sở để chứng minh bên nhận chuyển giao hiện tại là bên có quyền đối với việc tiếp nhận, yêu cầu thực hiện nghĩa vụ. Chính vì vậy, bên chuyển giao phải chuyển giao cho bên nhận chuyển giao cả giấy tờ có liên quan.

Giấy tờ đó có thể là hợp đồng chính, hợp đồng phụ, chứng minh thư, hộ khẩu, giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu đối với tài sản,…Vì vậy, bên thế quyền có nghĩa vụ phải xác minh việc mình là bên có quyền đối với nghĩa vụ phải thực hiện bằng cách đưa ra những giấy tờ có liên quan.

Quy định này nhằm thể hiện tính chặt chẽ trong giao dịch đồng thời đảm bảo tính pháp lý. Tránh việc có người lợi dụng quy định chuyển giao quyền yêu cầu để lừa bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ với mình. Vì những lẽ đó mà bên có nghĩa vụ có quyền từ chối thực hiện nghĩa vụ với bên thế quyền, nếu họ không xác thực được việc quyền yêu cầu đã được chuyển giao cho họ.

*Lưu ý: Trường hợp bên có nghĩa vụ do không biết việc chuyển giao quyền yêu cầu mà vẫn thực hiện nghĩa vụ với bên chuyển giao, thì bên thế quyền không có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ với mình. Đây hoàn toàn là lỗi của bên có quyền, khi không thông báo cho bên có nghĩa vụ biết mặc dù đó là nghĩa vụ bắt buộc mà pháp luật quy định. Lúc này, nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ với bên thế quyền được chuyển sang cho bên chuyển giao.

Trên đây là bài viết trả lời cho câu hỏi Quyền từ chối của bên có nghĩa vụ trong chuyển giao quyền yêu cầu được quy định như thế nào? mà bạn đọc gửi về cho Phaplynhanh.vn. Phaplynhanh.vn luôn sẵn sàng tư vấn pháp lý miễn phí (qua điện thoại 0907520537tư vấn trực tiếp, qua zalofanpage…) về tất cả các thắc mắc nhiều lĩnh vực khác nhau như Luật sư Hình sựLuật sư Hôn nhân Gia đìnhLuật sư Dân sựLuật sư Doanh Nghiệp, Luật sư Kinh doanh Thương mại, Luật sư Đất đai

[Tìm hiểu thêm…]

Chuyển giao quyền yêu cầu có biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được quy định như thế nào?

Chuyển giao quyền yêu cầu có cần sự đồng ý của bên có nghĩa vụ hay không? 

Không được chuyển giao quyền yêu cầu trong trường hợp nào?

Chuyển giao quyền yêu cầu là gì?

Nghĩa vụ cung cấp thông tin và chuyển giao giấy tờ được quy định như thế nào?

Trân trọng !

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *