Truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân là một bổ sung mới trong Bộ luật hình sự 2015. Để phù hợp với BLHS thì BLTTHS 2015 đã bổ sung thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân. Cần phải chứng minh vấn đề gì khi tiến hành tố tụng đối với pháp nhân bị buộc tội?
Mục lục bài viết
Căn cứ pháp lý?
Theo Điều 441 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 quy định:
“Điều 441. Những vấn đề cần phải chứng minh khi tiến hành tố tụng đối với pháp nhân bị buộc tội
1. Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội thuộc trách nhiệm hình sự của pháp nhân theo quy định của Bộ luật hình sự.
2. Lỗi của pháp nhân, lỗi của cá nhân là thành viên của pháp nhân.
3. Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội của pháp nhân gây ra.
4. Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và tình tiết khác liên quan đến miễn hình phạt.
5. Nguyên nhân và điều kiện phạm tội.”
Quy định của BLTTHS 2015 về những vấn đề cần phải chứng minh khi tiến hành tố tụng đối với pháp nhân bị buộc tội?
Đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự do pháp nhân thực hiện là tổng hợp những sự kiện, tình tiết thực tế phản ánh bản chất của sự việc liên quan đến tội phạm và pháp nhân phạm tội mà những sự kiện, tình tiết này đã được BLTTHS quy định, các cơ quan tiến hành tố tụng phải làm sáng tỏ một cách khách quan, đầy đủ, toàn diện và chính xác để giải quyết đúng đắn vụ án hình sự và đề ra các biện pháp phòng ngừa tội phạm
Theo quy định tại Điều 441 BLTTHS 2015 thì đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự do pháp nhân thực hiện bao gồm:
Thứ nhất, có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội thuộc trách nhiệm hình sự của pháp nhân theo quy định của Bộ luật hình sự 2015. Đây là yêu cầu đầu tiên đối với quá trình điều tra truy tố, xét xử vụ án hình sự đối với pháp nhân phạm tội.
Trong từng vụ án hình sự cụ thể cần phải chứng minh một cách khẳng định rằng hành vi bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đã xảy ra trong thực tế. Để làm được điều này, các CQTHTT phải làm sáng tỏ một cách khách quan, đầy đủ, toàn diện và chính xác tất cả các tình tiết liên quan đến hành vi phạm tội, có ý nghĩa trong việc xác định tội danh nói riêng và giải quyết đúng đắn vụ án hình sự nói chung. Đó là những dấu hiệu thuộc chủ thể và mặt khách quan của tội phạm.
Thứ hai, lỗi của pháp nhân, lỗi của cá nhân là thành viên của pháp nhân. Đây là những vấn đề thuộc mặt chủ quan của tội phạm. Trong quá trình tiến hành tố tụng, các cơ quan có thẩm quyền phải áp dụng các biện pháp để xác định rõ pháp nhân và các cá nhân là thành viên của pháp nhân có lỗi không? Nếu có lỗi thì đó là lỗi gì, cố ý hay vô ý?
Thứ ba, tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội của pháp nhân gây ra. Đây là vấn đề thuộc về hậu quả của tội phạm, có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định tội danh và xác định mức độ trách nhiệm hình sự của pháp nhân cũng như mức bồi thường thiệt hại.
Thứ tư, những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và tình tiết khác liên quan đến miễn hình phạt. Theo quy định của BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì có 5 loại tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và 06 loại tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự áp dụng đối với pháp nhân phạm tội, cụ thể như sau:
+ Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự gồm: a) Đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm; b) Tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả; c) Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn; d) Tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án; đ) Có nhiều đóng góp trong việc thực hiện chính sách xã hội.
Khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án. Các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt (quy định tại Điều 84 BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017).
+ Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự gồm: a) Câu kết với pháp nhân thương mại khác để phạm tội; b) Cố ý thực hiện tội phạm đến cùng; c) Phạm tội 02 lần trở lên; d) Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm; đ) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội; e) Dùng thủ đoạn tinh vi để phạm tội hoặc nhằm trốn tránh, che giấu tội phạm.
Cần lưu ý: các tình tiết đã được BLHS quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng (theo quy định tại Điều 85 BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017).
+ Về những tình tiết khác liên quan đến miễn hình phạt đối với pháp nhân phạm tội. Theo quy định của Điều luật thì đó là những tình tiết liên quan đến việc khắc phục toàn bộ hậu quả và đã bồi thường toàn bộ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.
Thứ năm, nguyên nhân và điều kiện phạm tội: theo quy định của BLTTHS 2015 thì nguyên nhân và điều kiện phạm tội là một trong những vấn đề cần phải chứng minh khi tiến hành tố tụng đối với pháp nhân bị buộc tội. Nguyên nhân là yếu tố làm trực tiếp phát sinh tội phạm. Điều kiện tuy không phải là yếu tố trực tiếp làm phát sinh tội phạm nhưng lại tạo điều kiện cho tội phạm xảy ra. CQTHTT phải phát hiện, làm sáng tỏ nguyên nhân và điều kiện phạm tội xảy ra.
CQTHTT phải phát hiện làm sáng tỏ nguyên nhân và điều kiện phạm tội, yêu cầu, kiến nghị cơ quan tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và phòng ngừa. Các cơ quan, tổ chức hữu quan phải thực hiện yêu cầu, kiến nghị của CQTHTT. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan phải trả lời bằng văn bản về việc thực hiện yêu cầu kiến nghị của CQTHTT.
Nguyên nhân và điều kiện phạm tội?
– Nguyên nhân: Hiện tượng làm nảy sinh ra hiện tượng khác, trong quan hệ với hiện tượng khác đó.
+ Căn cứ vào mức độ tác động của nguyên nhân trong việc làm phát sinh tội phạm, có thể chia nguyên nhân thành nguyên nhân chủ yếu và nguyên nhân thứ yếu.
Nguyên nhân chủ yếu làm phát sinh tội phạm là những nhân tố đóng vai trò chủ chốt trong việc làm phát sinh tội phạm và những nhân tố này chiếm tỉ trọng đáng kể trong tổng số các nhân tố làm phát sinh tội phạm.
Nguyên nhân thứ yếu làm phát sinh tội phạm là những nhân tố chỉ đóng vai trò hạn chế trong việc làm phát sinh 101 phạm và những nhân tố này chiếm tỉ trọng không đáng kể trong tổng số các nhân tố làm phát sinh tội phạm.
+ Căn cứ vào nguồn gốc xuất hiện, có thể chia nguyên nhân của tội phạm thành nguyên nhân bắt nguồn từ môi trường sống và nguyên nhân xuất phát từ phía người phạm tội.
Nguyên nhân bắt nguồn từ môi trường sống là tổng hợp các nhân tố tiêu cực được hình thành từ môi trường sống của cá nhân có thể tác động, ảnh hưởng đến cá nhân ở mức độ nhất định mà từ đó làm phát sinh tội phạm. Ví dụ như các nhân tố: môi trường gia đình không hoàn thiện, môi trường nơi cư trú có nhiều tệ nạn xã hội…
Nguyên nhân xuất phát từ phía người phạm tội là tổng hợp những nhân tố tiêu cực thuộc về nhân thân người phạm tội có thể tác động, ảnh hưởng, dẫn đến việc làm phát sinh tội phạm của người phạm tội. Những nhân tố tiêu cực này có thể là các yếu tố thuộc về sinh học, tâm lí, xã hội-nghề nghiệp của người phạm tội
– Điều kiện: Cái cần phải có để cho một cái khác có thể có hoặc có thể xảy ra.
Điều kiện của tội phạm là Những yếu tố làm cho tội phạm nảy sinh và nảy sinh trở lại, tiếp tục tồn tại hoặc phát triển, làm cho tội phạm ngày càng phổ biến, nghiêm trọng. Các điều kiện đó thường là: pháp chế, kỉ cương không nghiêm; công tác kiểm tra, giám sát, kiểm kê, kiểm sát không nhạy bén, kém hiệu lực; môi trường đạo đức nhân văn sa sút; chế độ trách nhiệm cá nhân không rõ ràng, thưởng phạt thiếu nghiêm minh.
Hiện nay, pháp luật chưa có quy định hướng dẫn cụ thể về mục đích của việc xác định nguyên nhân và điều kiện phạm tội. Tuy nhiên, có thể cho rằng pháp luật hình sự yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng phải chứng minh nguyên nhân và điều kiện phạm tội là bởi vì:
– Thứ nhất, nguyên nhân và điều kiện phạm tội là căn cứ để cơ quan tiến hành tố tụng xem xét giải quyết toàn diện vụ án trong đó có khía cạnh xã hội học, tức là tìm ra nguyên nhân và điều kiện phạm tội, phục vụ cho việc ban hành chính sách pháp luật của nhà nước trong việc phòng, chống tội phạm.
– Thứ hai, nguyên nhân và điều kiện phạm tội cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xem xét trách nhiệm hình sự, mức hình phạt và mức bồi thường thiệt hại khi xem xét giải quyết vụ án hình sự.
Xem thêm…
Phong tỏa tài khoản áp dụng đối với pháp nhân?
Triệu tập người đại diện theo pháp luật của pháp nhân?
Phaplynhanh.vn đang hỗ trợ cho người dân, doanh nhân và doanh nghiệp trên khắp cả nước ở nhiều lĩnh vực khác nhau như Luật sư Hình sự, Luật sư Hôn nhân Gia đình, Luật sư Dân sự, Luật sư Doanh Nghiệp, Luật sư Đất đai… tư vấn ly hôn nhanh, tư vấn luật thừa kế,… liên hệ với chúng tôi qua thông tin tại Website, Hotline: 0907520537 hoặc Fanpage: Pháp lý nhanh.VN


THÔNG TIN VỀ CHÚNG TÔI:
Trụ sở chính: CÔNG TY LUẬT TNHH ADB SAIGON25 Đồng Xoài, phường Tân Bình, TP Hồ Chí Minh.Chi nhánh Bình Dương: CÔNG TY LUẬT TNHH ADB SAIGON – CHI NHÁNH BÌNH DƯƠNG569 Đại lộ Bình Dương, phường Thủ Dầu Một, TP Hồ Chí Minh.Điện thoại: 0377.377.877 – 0907.520.537 (Zalo)– 0855.017.017 (Hôn nhân) - 0907 520 537 (Tố tụng)Website: adbsaigon.com; Email: info@adbsaigon.com