Căn cứ phát sinh nghĩa vụ theo quy định của pháp luật?

Nghĩa vụ là mối liên hệ của hai hay nhiều người với nhau, trong đó các bên phải thực hiện hoặc không được thực hiện một số hành vi nhất định. Nghĩa vụ là một bộ phận không thể tách rời khỏi nội dung của một quan hệ dân sự. Vậy các căn cứ nào thì sẽ làm phát sinh nghĩa vụ ? Mời bạn cùng Phaplynhanh.vn tìm hiểu qua bài viết sau đây

Cơ sở pháp lý

Bộ luật Dân sự 2015

Căn cứ phát sinh nghĩa vụ?

Theo quy định tại điều 275 Bộ luật Dân sự 2015 về căn cứ phát sinh nghĩa vụ:

Điều 275. Căn cứ phát sinh nghĩa vụ

Nghĩa vụ phát sinh từ căn cứ sau đây:

1.Hợp đồng.

2.Hành vi pháp lý đơn phương.

3.Thực hiện công việc không có ủy quyền.

4.Chiếm hữu, sử dụng tài sản hoặc được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.

5.Gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật.

6.Căn cứ khác do pháp luật quy định.

Căn cứ phát sinh nghĩa vụ được quy định như thế nào-Hỗ trợ, tư vấn pháp lý nhanh

Như vậy theo quy định trên, pháp luật quy định nghĩa vụ phát sinh trong sáu căn cứ, cụ thể như sau:

Nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng

Với tính chất này, khi các bên thỏa thuận nhằm làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của nhau thì đây sẽ là căn cứ hình thành nghĩa vụ. Thông thường, quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng có tính đối xứng nhau, quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại. Hợp đồng làm phát sinh nghĩa vụ dân sự từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực pháp luật.

Hợp đồng là căn cứ phát sinh nghĩa vụ phải có hiệu lực pháp luật; còn đối với hợp đồng vô hiệu thì hợp đồng không có hiệu lực kể từ thời điểm kí kết nên không được coi là căn cứ phát sinh nghĩa vụ cho các bên trong hợp đồng.

Nghĩa vụ phát sinh từ hành vi pháp lí đơn phương

Hành vi pháp lý đơn phương được hiểu là những tuyên bố ý chí của một bên chủ thể nhằm làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ được hiểu là hành vi pháp lý đơn phương. Với căn cứ này, quan hệ nghĩa vụ chỉ phát sinh khi người tuyên bố ý chí đưa ra các yêu cầu và một chủ thể nào đó phải thực hiện được yêu cầu đó.

Nhưng không phải mọi hành vi pháp lý đơn phương đều làm phát sinh nghĩa vụ dân sư. Có hành vi pháp lý đơn phương được tiến hành nhằm làm phát sinh một quyền hay nghĩa vụ dân sự của chủ thể được xác định. Có những hành vi pháp lý đơn phương được tiến hành không nhằm làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự ở chủ thể được xác định ví dụ chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu đối với tài sản.

Nghĩa vụ phát sinh từ thực hiện công việc không có ủy quyền

Thực hiện công việc không có ủy quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó vì lợi ích của người khác, khi người có công việc được thực hiện không biết hoặc biết mà không phản đối. Thực hiện công việc không có ủy quyền làm phát sinh nghĩa vụ cho cả người thực hiện công việc và người có công việc được thực hiện.

Người thực hiện công việc phải thực hiện các nghĩa vụ như: thực hiện công việc phù hợp với mong muốn của người có công việc được thực hiện; thực hiện công việc phù hợp với khả năng, điều kiện của mình,…Người có công việc được thực hiện có nghĩa vụ thanh toán chi phí thực hiện công việc và tiền thù lao cho người thực hiện công việc thay mình,…

Tuy nhiên nếu người đã thực hiện công việc không yêu cầu thanh toán các khoản chi phí, thù lao thì sẽ không làm phát sinh nghĩa vụ của người có công việc được thực hiện.

Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng tài sản hoặc được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.

Chiếm hữu, sử dụng, được lợi từ tài sản không có căn cứ pháp luật có thể hiểu là việc chiếm hữu, sử dụng, được lợi từ tài sản mà không có cơ sở chứng minh mình là là người có quyền với tài sản, việc nắm giữ, khai thác tài sản đó là không hợp pháp. Pháp luật chỉ thừa nhận và bảo vệ cho việc chiếm hữu, sử dụng, được lợi từ tài sản nếu người đó là chủ sở hữu của tài sản đó, hoặc là người được pháp luật chuyển giao quyền.

Vì vậy, đối với trường hợp chiếm hữu, sử dụng, được lợi từ tài sản mà không có căn pháp luật sẽ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự của họ đối với chủ sở hữu tài sản hợp pháp, bao gồm: nghĩa vụ hoàn trả lại tài sản, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại.

Nghĩa vụ phát sinh từ việc gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật.

Gây thiệt do hành vi trái pháp luật là việc một người bằng hành vi của mình xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản của người khác. Đây là căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự của người gây thiệt hại, cụ thể là trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại là: có thiệt hại thực tế xảy ra và thiệt hại đó hoàn toàn do lỗi của một bên gây ra. Quan hệ bồi thường thiệt hại là một nghĩa vụ dân sự vì có sự dịch chuyển lợi ích từ chủ thể này sang chủ thể khá, mà lợi ích đó được xác định dưới dạng một khoản vật chất là tiền hoặc vật chất khác.

Quan hệ bồi thường tức là một dạng của trách nhiệm pháp lý nói chung, do đó trách nhiệm bồi thường được đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước.

Nghĩa vụ phát sinh theo các căn cứ khác do pháp luật quy định

Ngoài các căn cứ cụ thể trên pháp luật còn quy định nghĩa vụ dân sự được phát sinh từ những căn cứ khác, tùy vào từng trường hợp nhất định.

Trên đây là bài viết tham khảo về các căn cứ phát sinh nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015. Phaplynhanh.vn luôn sẵn sàng tư vấn pháp lý miễn phí (qua điện thoại 0907520537tư vấn trực tiếp, qua zalofanpage…) về tất cả các thắc mắc nhiều lĩnh vực khác nhau như Luật sư Hình sựLuật sư Hôn nhân Gia đìnhLuật sư Dân sựLuật sư Doanh Nghiệp, Luật sư Kinh doanh Thương mại, Luật sư Đất đai

Trân trọng !

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *