Ủy ban kiểm toán trong công ty cổ phần là gì?

Với sự phát triển của kinh tế, các công ty cổ phần ngày càng mở rộng năng lực tài chính mạnh mẽ, họ cũng nhận thấy được tầm đặc biệt quan trọng của Ủy ban kiểm toán, do vậy, mô hình công ty cổ phần có Ủy ban kiểm toán cũng được hình thành nên tương đối.

Cơ sở pháp lý:

Luật Doanh nghiệp năm 2020

Ủy ban kiểm toán là gì?

Ủy ban kiểm toán - Luật sư ADB SAIGON

Trước hết, cần khẳng định: Ủy ban kiểm toán chỉ có trong cơ cấu tổ chức quản lý của công ty cổ phần và không phải tất cả các công ty cổ phần đều bắt buộc phải có.

Theo quy định tại Luật Doanh nghiệp: “Trừ trường hợp pháp luật về chứng khoán có quy định khác, công ty cổ phần có quyền lựa chọn tổ chức quản lý và hoạt động theo một trong hai mô hình sau đây:…” 

Trong đó, mô hình xác định phải có Ủy ban kiểm toán là: Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc (Không có Ban kiểm soát)-  ít nhất 20% số thành viên Hội đồng quản trị phải là thành viên độc lập và có Ủy ban kiểm toán trực thuộc Hội đồng quản trị.

Số lượng thành viên: từ 02 thành viên trở lên.

Yêu cầu đối với các thành viên: Chủ tịch Ủy ban kiểm toán phải là thành viên độc lập Hội đồng quản trị. (Thành viên độc lập Hội đồng quản trị là cá nhân được bầu khi đáp ứng đồng thời các điều kiện tại Khoản 1, Khoản 2, Điều 155 Luật Doanh nghiệp).

Các thành viên khác của Ủy ban kiểm toán phải là thành viên Hội đồng quản trị không điều hành. (Thành viên Hội đồng quản trị không điều hành là các cá nhân không giữ các chức vụ như Giám đốc, Tổng giám đốc, Phó tổng giám đốc,…).

Quy định về Ủy ban kiểm toán công ty cổ phần:

Ủy ban kiểm toán công ty cổ phần chỉ được quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2020.

Khái quát về nội dung tại các Điều 137; Điều 161, bao gồm quy định về thế nào là ủy ban kiểm toán; thành viên ủy ban kiểm toán; biểu quyết thông qua quyết định; quyền và nghĩa vụ của ủy ban kiểm toán.

Về nguyên tắc: Cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của Ủy ban kiểm toán quy định tại Điều lệ công ty hoặc quy chế hoạt động của Ủy ban kiểm toán do Hội đồng quản trị ban hành. (Điểm b, Khoản 1, Điều 137 Luật Doanh nghiệp).

Điều này dẫn đến các quy định của pháp luật về Ủy ban kiểm toán khá ít và ngắn gọn.

Tìm hiểu sâu hơn về các quy định của pháp luật, cụ thể:

Thứ nhất, về cơ chế thông qua quyết định của Ủy ban kiểm toán.

Khoản 2, Điều 161 Luật Doanh nghiệp quy định: “Ủy ban kiểm toán thông qua quyết định bằng biểu quyết tại cuộc họp, lấy ý kiến bằng văn bản hoặc hình thức khác do Điều lệ công ty hoặc quy chế hoạt động Ủy ban kiểm toán quy định. Mỗi thành viên Ủy ban kiểm toán có một phiếu biểu quyết. Trừ trường hợp Điều lệ công ty hoặc quy chế hoạt động Ủy ban kiểm toán có quy định tỷ lệ khác cao hơn, quyết định của Ủy ban kiểm toán được thông qua nếu được đa số thành viên dự họp tán thành; trường hợp số phiếu ngang nhau thì quyết định cuối cùng thuộc về phía có ý kiến của Chủ tịch Ủy ban kiểm toán.

– Hình thức biểu quyết nhằm tạo sự công bằng, khách quan hơn trong việc quyết định, bản thân mỗi thành viên Ủy ban kiểm toán nắm giữ một lá phiếu, là tư cách để họ bày tỏ ý kiến trước các quyết định của Ủy ban. Chính vì là thực hiện thông qua quyết định bằng hình thức biểu quyết do đó, số lượng thành viên Ủy ban kiểm toán thường là số lẻ mặc dù pháp luật có dự trù về trường hợp có số phiếu ngang nhau.

Thứ hai, về quyền và nghĩa vụ của Ủy ban kiểm toán:

Khoản 3, Điều 161 Luật Doanh nghiệp nêu rõ các quyền và nghĩa vụ như sau:

Một là, giám sát tính trung thực của báo cáo tài chính của công ty và công bố chính thức liên quan đến kết quả tài chính của công ty.

Hai là, rà soát hệ thống kiểm soát nội bộ và quản lý rủi ro.

Ba là, rà soát giao dịch với người có liên quan thuộc thẩm quyền phê duyệt của Hội đồng quản trị hoặc Đại hội đồng cổ đông và đưa ra khuyến nghị về những giao dịch cần có phê duyệt của Hội đồng quản trị hoặc Đại hội đồng cổ đông.

Bốn là, giám sát bộ phận kiểm toán nội bộ của công ty.

Năm là, kiến nghị công ty kiểm toán độc lập, mức thù lao và điều khoản liên quan trong hợp đồng với công ty kiểm toán để Hội đồng quản trị thông qua trước khi trình lên Đại hội đồng cổ đông thường niên phê duyệt.

Sáu là, theo dõi và đánh giá sự độc lập, khách quan của công ty kiểm toán và hiệu quả của quá trình kiểm toán, đặc biệt trong trường hợp công ty có sử dụng các dịch vụ phi kiểm toán của bên kiểm toán.

Bảy là, giám sát nhằm bảo đảm công ty tuân thủ quy định của pháp luật, yêu cầu của cơ quan quản lý và quy định nội bộ khác của công ty. Hoạt động này nhằm đảm bảo tính thống nhất của công ty, là nghĩa vụ căn bản, hợp lí và hoàn toàn có cơ sở buộc công ty phải thực hiện theo đúng tinh thần “giám sát” của Ủy ban kiểm toán.

Luật sư ADB SAIGON hiện đang hỗ trợ cho người dân, doanh nhân và doanh nghiệp trên khắp cả nước ở nhiều lĩnh vực khác nhau như Luật sư Hình sựLuật sư Hôn nhân Gia đìnhLuật sư Dân sựLuật sư Doanh NghiệpLuật sư Đất đaitư vấn ly hôn nhanhtư vấn luật thừa kếluật sư Hình sự giỏi…..vui lòng liên hệ với chúng tôi qua thông tin tại Website, Hotline: 0907520537 hoặc Fanpage: https://www.facebook.com/luatsutaibinhduong

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *