Quy định của Bộ luật Dân sự 2015 về người không được quyền hưởng di sản như thế nào?

Người không được quyền hưởng di sản là những người đáng lẽ được hưởng di sản theo pháp luật hoặc theo di chúc nhưng do họ đã có một số hành vi trái pháp luật, trái đạo đức xã hội nghiêm trọng tới mức pháp luật xác định họ không xứng đáng được hưởng di sản nữa. Cùng Luật sư ADB Saigon tìm hiểu thêm về Quy định của Bộ luật Dân sự 2015 về người không được quyền hưởng di sản như thế nào qua bài viết dưới đây:

Ai không được quyền hưởng di sản?

Theo quy định tại khoản 1 Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015:

“Điều 621. Người không được quyền hưởng di sản

1. Những người sau đây không được quyền hưởng di sản:

a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;

b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;

c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;

d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.”

Pháp luật luôn luôn tôn trọng và bảo vệ quyền hưởng di sản của người thừa kế. Nhưng, những người theo quy định trên có những hành vi bất xứng vi phạm nghĩa vụ của mình, trái với đạo đức xã hội hoặc có những hành vi trái pháp luật xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm của người để lại di sản; xâm phạm tính mạng người thừa kế khác để nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng… Nhằm đảm bảo giá trị gia đình, đảm bảo truyền thống, đạo đức xã hội cũng như trật tự và công bằng xã hội thì Điều 621 Bộ luật dân sự quy định phạm vi những người không được quyền hưởng di sản do có những hành vi bất xứng.

nguoi-khong-duoc-quyen-huong-di-san-ho tro phap ly nhanh

Quy định của Bộ luật Dân sự 2015 về người không được quyền hưởng di sản

Người không được hưởng di sản trong trường hợp thừa kế theo di chúc

Căn cứ theo Điều 626 Bộ luật Dân sự 2015 đã quy định rõ về các quyền của người lập di chúc gồm:

  • Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế.
  • Phân định phần di sản cho từng người thừa kế.
  • Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng.
  • Giao nghĩa vụ cho người thừa kế.
  • Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.

Trong đó, có thể thấy, người lập di chúc hoàn toàn có quyền chỉ định về việc truất quyền hưởng di sản của bất kỳ một người thừa kế nào. Như vậy, trong trường hợp thừa kế theo di chúc, nếu người lập di chúc có đưa ý kiến về việc truất quyền hưởng di sản của bất kỳ người thừa kế nào thì chủ thể đó sẽ là người không được hưởng di sản thừa kế

Theo quy định pháp luật, những đối tượng sau đây bao gồm: “Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ chồng; Con thành niên mà không có khả năng lao động” vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó.

Người không được hưởng di sản trong trường hợp thừa kế theo pháp luật

Theo quy định tại Điều 621 Bộ luật dân sự năm 2015, người không được quyền hưởng di sản bao gồm những trường hợp sau:

– Xâm phạm đến người để lại di sản: Theo đó, điểm a khoản 1 Điều 621 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: Người không được quyền hưởng di sản là: “Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng sức khỏe hoặc về hành vị ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó”. Như vậy, để xác định là người không có quyền hưởng di sản thừa kế trên cơ sở quy định trên cần phải hội đủ hai điều kiện:

+ Điều kiện cần là người có quyền hưởng di sản thừa kế đã có hành vi “cố ý xâm phạm tính mạng sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó”.

+ Điều kiện đủ đó là hành vi cố ý xâm phạm người để lại di sản của người có quyền hưởng di sản đã bị Tòa án nhân dân có thẩm quyền kết án bằng một bản án hoặc quyết định.

– Vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng. Theo đó, điểm b khoản 1 Điều 621 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định Người không được quyền hưởng di sản là: “Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản”. Với trường hợp này pháp luật chỉ đòi hỏi người có quyền hưởng di sản đã “vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng” mà không đòi hỏi hành vi đó đã bị “kết án”. Tuy nhiên, hiểu thế nào là “vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng” thì hiện nay chưa có văn bản pháp luật nào giải thích cụ thể.

– Xâm phạm người thừa kế khác. Theo đó, điểm c khoản 1 Điều 621 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: Người không được quyền hưởng di sản là: “Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đỏ có quyền hưởng”. Như vậy, một người bị tước quyền hưởng di sản thừa kế trên cơ sở quy định này khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:

+ Người đó đã có hành vi cố ý xâm phạm tính mạng của người thừa kế khác.

+ Hành vi cố ý xâm phạm tính mạng của người thừa kế khác đó đã bị Tòa án nhân dân có thẩm quyền kết án bằng một bản án, quyết định.

+ Hành vi cố ý xâm phạm tính mạng của người thừa kế khác và đã bị kết án đó phải nhằm mục đích để được “hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng”.

– Xâm phạm quyền lập di chúc: Theo đó, điểm d khoản 1 Điều 621 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: Người không được quyền hưởng di sản thừa kế là: “Người có hành vi lửa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản”. Theo quy định này có hai trường hợp:

+ Trường hợp thứ nhất, người không được quyền hưởng di sản thừa kế là “người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc”. Pháp luật quy định, cá nhân có quyền tự do lập di chúc để định tài sản của mình cho cá nhân, cơ quan tổ chức khác sau khi chết. Do đó, một cá nhân khi còn sống có quyền quyết định có lập di chúc hay không và khi lập di chúc họ có quyền chỉ định ai là người có quyền hướng di sản, hưởng bao nhiêu… Vì vậy, “người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc” đã xâm phạm quyền tự do lập di chúc, quyền tự do ý chí trong việc lập di chúc. Do vậy, pháp luật đã tước quyền được hưởng thừa kế của những người có hành vi này.

+ Trường hợp thứ hai, người không được quyền hưởng di sản là “người có hành vi… giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản”. Như vậy, theo căn cứ này thì một người bị tước quyền hưởng di sản khi thỏa mãn hai điều kiện: (i) Có hành vi giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc; (ii) Việc thực hiện các hành vi trên nhằm mục đích hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.

Như vậy, khi một người rơi vào ít nhất một trong những trường hợp nêu trên thì họ sẽ bị tước quyền thừa kế. Tuy nhiên, nhằm tôn trọng quyền định đoạt của người để lại di sản nên pháp luật dân sự đã quy định những người thừa kế rơi vào hoàn cảnh như trên sẽ vẫn được hưởng thừa kế theo di chúc nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc (khoản 2 Điều 621 Bộ luật dân sự năm 2015).

Trên đây là bài viết tham khảo của Luật sư ADB SAIGON về Người không được quyền hưởng di sản theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015. Luật sư ADB SAIGON luôn sẵn sàng tư vấn pháp lý miễn phí (qua điện thoại 0907520537tư vấn trực tiếp, qua zalofanpage…) về tất cả các thắc mắc nhiều lĩnh vực khác nhau như Luật sư Hình sựLuật sư Hôn nhân Gia đìnhLuật sư Dân sựLuật sư Doanh Nghiệp, Luật sư Kinh doanh Thương mại, Luật sư Đất đai

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *