Bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật là gì?

Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật là một nguyên tắc hiến định. Cụ thể hóa hiến pháp, Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật tại Điều 9

Quyền bình đẳng trước pháp luật trong Hiến pháp Việt Nam

Quyền bình đẳng trước pháp luật ở Việt Nam đã được thể hiện ngay từ Hiến pháp 1946 – một bản Hiến pháp được ca ngợi ở nhiều phương diện trong đó có phương diện bảo vệ quyền con người và quyền bình đẳng trước pháp luật. Chẳng hạn Điều 6, 7 Hiến pháp 1946 quy định: “Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hoá”; “Tất cả công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, đều được tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc tuỳ theo tài năng và đức hạnh của mình”.

Kế thừa tư tưởng lập hiến tiến bộ trong đó có những tư tưởng văn minh tiến bộ về quyền con người có từ những năm đầu thế kỷ và đặc biệt là Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1992 tái khẳng định quyền bình đẳng trước pháp luật tại Điều 51 bằng việc khẳng định: Công dân có quyền bình đẳng trước pháp luật. Đến Hiến pháp 2013, tại Điều 16 quy định mọi người đều bình đẳng trước pháp luật.

Quyền bình đẳng trước pháp luật là quyền Hiến định và bình đẳng trước pháp luật là nguyên tắc Hiến định. Chính vì vậy, nó không chỉ được thể hiện và cụ thể hóa trong Hiến pháp mà còn được cụ thể hóa trong tất cả các lĩnh vực cụ thể của quan hệ pháp luật như: Điều 3, Điều 16 -18 và Điều 19 – 24 Bộ luật Dân sự (2015); Điều 9 Bộ luật Tố tụng Hình sự (2015); Điều 2 Luật Quốc tịch (2008);….

Trên bình diện thể chế hóa quyền bình đẳng trước pháp luật ở Việt Nam có thể đưa ra nhận xét sau đây:

Thứ nhất, bình đẳng trước pháp luật là một nội dung xuyên suốt tư tưởng lập hiến Việt Nam. Nó được khẳng định và thể hiện một cách nhất quán trong các bản Hiến pháp Việt Nam. Xu hướng chung là quyền bình đẳng trước pháp luật ngày càng được bổ sung trong nhiều lĩnh vực.

Thứ hai, quyền bình đẳng trước pháp luật xuất hiện với tư cách là một quyền trong tất cả các bản Hiến pháp nhưng mức độ thể hiện của nó trong các bản Hiến pháp và các lĩnh vực quan hệ pháp luật khác là không giống nhau, lúc thăng lúc trầm. Có khi nó được thể hiện giản dị, mạch lạc và tương đối đầy đủ trong Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1992, Hiến pháp 2013 nhưng cũng có thời điểm, quyền này bị cắt xén, hạn chế, thậm chí phủ nhận trong Hiến pháp 1959 và 1980. Ví dụ quyền tự ứng cử chỉ xuất hiện trong Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1959; quyền bình đẳng trong kinh doanh giữa các thành phần kinh tế có lúc bị triệt tiêu; quyền tự do xuất bản quy định trong Hiến pháp 1946 không thấy xuất hiện trở lại trong các bản Hiến pháp sau này.

Thứ ba, quyền bình đẳng trước pháp luật của con người trong mối quan hệ với Nhà nước chưa thiết lập được thế quân bình. Nói cách khác, bình đẳng trước pháp luật chỉ được đặt trong mối quan hệ giữa công dân với nhau. Sự bình đẳng trước pháp luật của công dân với Nhà nước còn mờ nhạt.

Quyền bình đẳng trước pháp luật - Tư vấn, hỗ trợ pháp lý nhanh

Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật trong Bộ luật Tố tụng Hình sự?

Điều 9 Bộ Luật Tố tụng Hình sự có quy định:

Điều 9. Bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật

Tố tụng hình sự được tiến hành theo nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần và địa vị xã hội. Bất cứ người nào phạm tội đều bị xử lý theo pháp luật.

Mọi pháp nhân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế.”

Trong tố tụng hình sự, sự bình đẳng trước pháp luật trước hết là sự bình đẳng trong địa vị pháp lý tố tụng. Cụ thể hơn, chẳng hạn, đều là bị can, bị cáo trong một loại vụ án thì đều phải được có các quyền và được quy định nghĩa vụ tố tụng như nhau, không phân biệt đối xử theo các yếu tố địa vị xã hội, chức vụ, giới tính, tôn giáo, dân tộc. Sự bình đẳng pháp lý đó còn được bổ sung bởi đòi hỏi về công bằng trong trường hợp một người, vì lý do khiếm khuyết về thể chất, tinh thần và lứa tuổi mà không thể sử dụng được các quyền tố tụng của họ. Chẳng hạn, khi lấy lời khai của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, bị tạm giữ, bị hại, người làm chứng, hỏi cung bị can là người dưới 18 tuổi phải bảo đảm sự có mặt của người bào chữa, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp (Điều 421 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015).

Quyền bình đẳng trước pháp luật là một nguyên tắc cơ bản của pháp luật và là một trong những giá trị cốt lõi của một nền tảng pháp lý công bằng và hiệu quả. Nó đảm bảo rằng tất cả mọi người đều có quyền được xử lý công bằng và theo đúng quy trình pháp lý, đồng thời tránh được sự lạm dụng quyền lực của những người có vị trí cao trong xã hội.

Nếu bạn đang cần tìm công ty Luật uy tín hỗ trợ các thắc mắc nhiều lĩnh vực khác nhau như Luật sư Hình sựLuật sư Hôn nhân Gia đìnhLuật sư Dân sựLuật sư Doanh Nghiệp, Luật sư Kinh doanh Thương mạiLuật sư Đất đai… Bạn có thể liên hệ tới Hotline: 0907 520 537 hoặc Fanpage: Luật sư Bình Dương của Luật sư ADB SAIGON để chúng tôi hỗ trợ.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *